Modun THPT24 kỹ thuật kiểm tra đánh giá trong dạy học – Tài liệu text

Bởi tuhocmoithu

Modun THPT24 kỹ thuật kiểm tra đánh giá trong dạy học

Bạn đang xem bản rút gọn của tài liệu. Xem và tải ngay bản đầy đủ của tài liệu tại đây (120.92 KB, 11 trang )

BÀI THU HOẠCH BDTX NĂM HỌC 2015-2016
Họ và tên giáo viên: DƯƠNG ANH VŨ
Tổ:
Tên và nội dung chuyên đề (Mô đun) : Kỹ thuật kiểm tra, đánh giá trong dạy học.
Mã Mô đun: THPT 24
CÂU HỎI VIẾT THU HOẠCH
NỘI DUNG BỒI DƯỠNG THƯỜNG XUYÊN 3 CỦA CÁN BỘ, GIÁO VIÊN
NĂM HỌC 2014 – 2015
1. Qua quá trình nghiên cứu tài liệu bồi dưỡng thường xuyên của Bộ GD&ĐT, đồng
chí hãy tóm tắt nội dung chính về kiến thức, kỹ năng qui định trong mục đích, nội
dung của từng Mô đun trong kế hoạch đã đăng ký.
(5 điểm)
2. Liên hệ với việc vận dụng nội dung của Mô đun vào quá trình thực hiện nhiệm vụ
được giao năm học 2014 – 20145? (5 điểm)
BÀI THU HOẠCH
Câu 1.
Đánh giá là một khâu quan trọng của quá trình giáo dục, vừa có vai trò kiểm
chứng kết quả của mục tiêu, nội dung và phuơng pháp dạy học, vừa góp phần điều chỉnh
kế hoạch giáo dục tiếp theo được tiến hành phù hợp và có hiệu quả. Hoạt động đánh giá
nếu được tiến hành một cách đồng bộ, khoa học, với các phuơng pháp và kĩ thuật phù
hợp sẽ có tác động rất tích cực đến quá trình giáo dục.
Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định việc đánh giá bằng điểm kết hợp với nhận xét
của giáo viên hoặc chỉ đánh giá bằng nhận xét của giáo viên cho từng môn học và hoạt
động giáo dục. Sau mỗi lớp và sau cấp học, có đánh giá, xếp loại kết quả giáo dục của
học sinh.
Vì vậy, để đánh giá đúng sự tiến bộ của học sinh, giáo viên cần xây dựng được hệ
thống đề kiểm tra, đánh giá. Kĩ thuật biên soạn đề kiểm tra có vai trò quyết định trong
xây dựng đề kiểm tra.
PHẦN 1. KĨ THUẬT BIÊN SOẠN ĐỀ KIỂM TRA
Để biên soạn một đề kiểm tra, ngưởi ra đề cần thực hiện theo quy trình sau:
Bước 1.Xác định mục đích của đề kiểm tra

Đề kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá kết quả học tập của học sinh sau khi
học xong một chủ đề, một chương, một học kì, một lớp hay một cấp học, nên ngưởi biên
soạn đề kiểm tra cần căn cứ vào yêu cầu của việc kiểm tra, căn cứ chuẩn kiến thức kĩ
năng của chương trình và thực tế học tập của học sinh để xây dựng mục đích của đề
kiểm tra cho phù hợp.
Bước 2. Xác định hình thức đề kiểm tra
1

Đề kiểm tra có các hình thức sau:
1) Đề kiểm tra tự luận;
2) Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan;
3) Đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trên: có cả câu hỏi dạng tự luận và câu hỏi
dạng trắc nghiệm khách quan. Trong trưởng hợp này nên ra đề riêng cho phần tự luận và
phần trắc nghiệm khách quan độc lập với nhau. Như vậy, xét cho cùng đề kiểm tra có hai
hình thức cơ bản tự luận và trắc nghiệm khách quan.
Mỗi hình thức đều có ưu điểm và hạn chế riêng nên cần kết hợp một cách hợp lý
các hình thức sao cho phù hợp với nội dung kiểm tra và đặc trưng môn học để nâng cao
hiệu quả, tạo điều kiện để đánh giá kết quả học tập của học sinh chính xác hơn.
Nếu đề kiểm tra kết hợp hai hình thức thì nên cho học sinh làm bài kiểm tra phần
trắc nghiệm khách quan độc lập với việc làm bài kiểm tra phần tự luận: làm phần trắc
nghiệm khách quan trước, thu bài rồi mới cho học sinh làm phần tự luận.
Bước 3. Thiết lập ma trận đề kiểm tra (bảng mô tả tiêu chí của đề kiểm tra)
Lập một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức chính cần
đánh giá, một chiều là các cấp độ nhận thức của học sinh theo các cấp độ: nhận biết,
thông hiểu và vận dụng (gồm có vận dụng ở cấp độ thấp và vận dụng ở cấp độ cao).
Trong mỗi ô là chuẩn kiến thức kĩ năng chương trình cần đánh giá, tỉ lệ % số
điểm, số lượng câu hỏi và tổng số điểm của các câu hỏi.
Số lượng câu hỏi của từng ô phụ thuộc vào mức độ quan trọng của mỗi chuẩn cần
đánh giá, lượng thởi gian làm bài kiểm tra và trọng số điểm quy định cho từng mạch

kiến thức, từng cấp độ nhận thức.
Dưới đây là một số dạng tổng quát của khung ma trận đề kiểm tra:
Mẫu 1: Khung ma trận đề kiểm tra theo một hình thức
(Dùng cho loại đề kiểm tra TL hoặc TNKQ)
Tên Chủ đề
(nội dung, chương)

Nhận biết
(cấp độ 1)

Thông hiểu
(cấp độ 2)

Vận dụng
Cấp độ
Cấp độ thấp
cao
(cấp độ 3)
(cấp độ 4)
Chuẩn
Chuẩn KT,
KT,
KNcần kiểm
KNcần
tra
kiểm tra
… câu
… câu
…điểm
…điểm

Chuẩn KT,
Nội dung KNcần kiểm
tra
Chương I
Chủ đề 1
Số câu
… câu
Số điểm
…điểm
Tỉ lệ %

Chuẩn KT,
KNcần kiểm
tra

Chuẩn KT,
Nội dung KNcần kiểm
Chương
tra
II
Chủ đề 2 Số câu
… câu
Số điểm
…điểm
Tỉ lệ %

Chuẩn KT,
KNcần kiểm
tra

Chuẩn KT,
KNcần kiểm
tra

… câu
…điểm

… câu
…điểm

… câu
…điểm

2

Chuẩn
KT,
KNcần
kiểm tra
… câu
…điểm

Cộng

…câu
… điểm
=…%

…câu

… điểm
=…%

Chuẩn KT,
Nội dung KNcần kiểm
Chương
tra

… câu
Chủ đề … Số câu
Số điểm
…điểm
Tỉ lệ %

Chuẩn KT,
KNcần kiểm
tra

Chuẩn KT,
KNcần kiểm
tra

… câu
…điểm

… câu
…điểm

Chuẩn

KT,
KNcần
kiểm tra
… câu
…điểm

…câu
… điểm
=…%

Mẫu 2: Khung ma trận đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức
(Dùng cho loại đề kiểm tra kết hợp TL và TNKQ)
Tên chủ đề
(nội dung,
chương…)

Nhận biết
(cấp độ 1)

Thông hiểu
(cấp độ 2)

TNKQ TL
TNKQ
TL
Chuẩn
Chuẩn Chuẩn Chuẩn
KT,
Nội
KT,

KT,
KT,
KNcần
dung
KNcần KNcần KNcần
kiểm
Chương
kiểm tra kiểm tra kiểm tra
tra
I
Chủ đề Số câu … câu … câu … câu … câu
1
Số
… điểm … điểm … điểm … điểm
điểm

Vận dụng
Cấp độ thấp
Cấp độ cao
(cấp độ 3)
(cấp độ 4)
TNKQ
TL
TNKQ
TL

Cộng

Chuẩn Chuẩn Chuẩn Chuẩn
KT,

KT,
KT,
KT,
KNcần KNcần KNcần KNcần
kiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra
… câu … câu … câu … câu

… câu

… điểm … điểm … điểm … điểm

… điểm

Tỉ lệ %

=…%

Chuẩn
Chuẩn Chuẩn Chuẩn
KT,
Nội
KT,
KT,
KT,
KNcần
dung
KNcần KNcần KNcần
kiểm
Chương
kiểm tra kiểm tra kiểm tra

tra
II
Chủ đề Số câu … câu … câu … câu … câu
2
Số
… điểm … điểm … điểm … điểm
điểm

Chuẩn Chuẩn Chuẩn Chuẩn
KT,
KT,
KT,
KT,
KNcần KNcần KNcần KNcần
kiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra
… câu … câu … câu … câu

… câu

… điểm … điểm … điểm … điểm

… điểm

Tỉ lệ %

=…%

Chuẩn
Chuẩn Chuẩn Chuẩn Chuẩn Chuẩn Chuẩn Chuẩn
KT,

Chương Nội
KT,
KT,
KT,
KT,
KT,
KT,
KT,
KNcần

dung
KNcần KNcần KNcần KNcần KNcần KNcần KNcần
kiểm
Chủ đề
kiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra
tra

Số câu … câu … câu … câu … câu … câu … câu … câu … câu
Số
… điểm … điểm … điểm … điểm … điểm … điểm … điểm … điểm
điểm
Tỉ lệ %

… câu
… điểm
=…%

* Các bước cơ bản thiết lập ma trận đề kiểm tra:
− Bước 1: liệt kê tên các chủ đề (nội dung, chương…) cần kiểm tra.
− Bước 2: Viết các chuẩn cần đánh giá đối với mọi cấp độ tư duy.

− Bước 3: Quyết định phân phối tỉ lệ % tổng điểm cho mỗi chủ đề (nội dung,
3

chương…).
− Bước 4: Quyết định tổng số điểm của bài kiểm tra.
− Bước 5: Tính số điểm cho mọi chú đề (nội dung, chương…) tương ứng với tỉ lệ %.
− Bước 6: Tính tỉ lệ %, số điểm và quyết định số câu hỏi cho mọi chuẩn tương úng.
− Bước 7: Tính tổng số điểm và tổng số câu hỏi cho mỗi cột.
− Bước 8: Tính tỉ lệ % tổng số điểm phân phối cho mỗi cột.
− Bước 9: Đánh giá lại ma trận và chỉnh sửa nếu thấy cần thiết.
* Cần lưu ý
− Khi viết các chuẩn, cần đánh giá đối với mỗi cấp độ tư duy.
− Quyết định tỉ lệ% tổng điểm phân phối cho mỗi chủ đề (nội dung, chương…)
− Tính số điểm và quyết định số câu hỏi cho mỗi chuẩn tương ứng.
* Mô tả về các cầp độ tư duy: Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng ở cấp độ thấp và
Vận dụng ở cấp độ cao.
* Xác định cấp độ tư duy dựa trên các cơ sở sau:
− Căn cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông
+ Kiến thức trong chuẩn ghi là biết được thì xác định ở cẩp độ “biết”;
+ Kiến thức trong chuẩn ghi là hiểu được thì xác định ở cẩp độ “hiểu”
+ Kiến thức trong chuẩn ghi ở phần kĩ năng thi xác định là cấp độ “vận đụng”.
− Những kiến thức, kĩ năng kết hợp giữa phần “hiểu được” và phần “kĩ năng” được
xác định ở cấp độ “vận dụng ở mức độ cao hơn”.
− Chú ý khi xác định các chuẩn cần đánh giá đối với mọi cấp độ tư duy.
− Các khâu cơ bản thiết kế ma trận đề kiểm tra.
Bước 4. Biên soạn câu hỏi theo ma trận
* Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan: Câu trả lời ngắn, câu đúng sai, câu nhiều
lựa chọn, câu ghép đôi, câu điền khuyết.
Với các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan, giáo viên phải hiểu rõ đặc điểm,

công dụng của mỗi loại để lựa chọn loại nào thích hợp với mục tiêu khảo sát hoặc mục
tiêu dạy học. Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan trên đây đều đuợc sử dụng có
hiệu quả trong giở lên lớp. Tuy nhiên hiện nay, trong các đề bài kiểm tra 1 tiết, học kỳ,
cuối năm… (trong đánh giá tổng kết) ngưởi ta thường dùng các câu hỏi nhiều lựa chọn,
vì: Khả năng phân biệt học sinh cao, đánh giá được kiến thức của học sinh trên một diện
rộng; hạn chế được khả năng học tủ, học lệch, học vẹt của học sinh, chấm điểm khách
quan, nhanh chóng, chính xác, có thể sử dụng công nghệ thông tin để chấm.
* Việc biên soạn câu hỏi theo ma trận cần đảm bảo: loại câu hỏi, số câu hỏi và nội
dung câu hỏi do ma trận đề quy định, mỗi câu hỏi trắc nghiệm khách quan chỉ kiểm tra
một chuẩn hoặc một vấn đề, khái niệm.
* Các yêu cầu đối với câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn.
− Câu hỏi phải đánh giá những nội dung quan trọng của chương trình;
− Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình bày và số điểm
tương ứng;
− Câu dẫn phải đặt ra câu hỏi trực tiếp hoặc một vấn đề cụ thể;
4

− Không trích dẫn nguyên văn những câu có sẵn trong sách giáo khoa;
− Từ ngữ, cấu trúc của câu hỏi phải rõ ràng và dễ hiểu đối với mọi học sinh;
− Mỗi phương án nhiễu phải hợp lý đối với những học sinh không nắm vững kiến
thức
− Mỗi phương án sai nên xây dựng dựa trên các lỗi hay nhận thức sai lệch của học
sinh
− Đáp án đúng của câu hỏi này phải độc lập với đáp án đúng của các câu hỏi khác
trong bài kiểm tra;
− Phần lựa chọn phải thống nhất và phù hợp với nội dung của câu dẫn;
− Mỗi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng, chính xác nhất;
− Không đưa ra phương án “Tất cả các đáp án trên đều đúng” hoặc “không có
phương án nào đúng”.

* Các yêu cầu đối với câu hỏi tự luận
− Câu hỏi phải đánh giá nội dung quan trọng của chương trình;
− Câu hỏi phải phù hợp với các tiêu chí ra đề kiểm tra về mặt trình bày và số điểm
tương ứng;
− Câu hỏi yêu cầu học sinh phải vận dụng kiến thức vào các tình huống mới;
− Câu hỏi thể hiện rõ nội dung và cấp độ tư duy cần đo;
− Nội dung câu hỏi đặt ra một yêu cầu và các hướng dẫn cụ thể về cách thực hiện yêu
cầu đó;
− Yêu cầu của câu hỏi phù hợp với trình độ và nhận thức của học sinh;
− Yêu cầu học sinh phải am hiểu nhiều hơn là ghi nhớ những khái niệm, thông tin;
− Ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi phải truyền tải được hết những yêu cầu của cán bộ
ra đề đến học sinh;
− Khi viết câu hỏi nên chú ý các vấn đề: Độ dài của bài làm (câu trả lời); Mục đích
bài kiểm tra; Thời gian để viết bài kiểm tra; Các tiêu chí cần đạt.
− Nếu câu hỏi yêu cầu học sinh nêu quan điểm và chứng minh cho quan điểm của
mình, câu hỏi cần nêu rõ: bài làm của học sinh sẽ được đánh giá dựa trên những lập luận
logic mà học sinh đó đưa ra để chứng minh và bảo vệ quan điểm của mình chứ không
chỉ đơn thuần là nêu quan điểm đó.
* Quy trình viết câu hỏi trắc nghiệm khách quan
Dự thảo câu hỏi:
Thu thập các tài liệu nguồn; Kiểm tra quyền tác giả của các tài liệu và xin phép sử
dụng nếu cần thiết; Phân chia tiêu chí kĩ thuật đề kiểm tra; Phân bố việc hướng dẫn viết
câu hỏi; Những tham số ảnh hưởng đến đề kiểm tra; Rà soát các đề kiểm tra trước đó;
Xác định những câu hỏi mẫu và các dạng câu hỏi; Dự thảo câu hỏi sử dụng cấu trúc của
câu hỏi.
Viẽt câu hỏi:
Dùng từ để hỏi trong câu dẫn; Viết những câu hỏi dạng khẳng định; Diễn đạt
5

nhiệm vụ rõ ràng; Sử dụng những từ ngữ có nghĩa rõ ràng, đơn giản; Đảm bảo rằng
những đáp án đúng thực sự đúng; Kiểm tra lỗi ngữ pháp; Các phương án nhiễu cần có vẻ
đúng; Không sử dụng “ Không có phương án nào “; Sắp xếp đề kiểm tra sao cho các
phương án lựa chọn (A, B, C, D đối với câu hỏi trắc nghiệm) được sắp xếp ngẫu nhiên;
Phù hợp với khả năng của đối tượng học sinh được kiểm tra.
Làm việc nhóm chuyên gia/hội đồng thẩm định
Rà soát các câu hỏi thông qua một nhóm chuyên gia/hội đồng, trong đó có một thành
viên được bầu làm nhóm trưởng.
− Lựa chọn các câu hỏi để xem xét.
− Nhóm chuyên gia/hội đồng cần có nhiều câu hỏi.
− Đồng thời cần có nhiều phương án nhiễu hơn mức cần thiết cho mỗi câu hỏi.
− Thành tập một nhóm gồm tối đa 10 chuyên gia môn học.
− Bổ nhiệm một thành vìên làm chủ tịch để kiểm soát quá trình rà soát câu hỏi.
− Lựa chọn các câu hỏi để rà soát.
− Cung cấp cho mọi thành viên của hội đồng 1 câu hỏi.
− Đánh dấu các câu hỏi.
− Mọi thành viên hội đồng sẽ rà soát câu hỏi mình được giao và ghi chú về những lỗi
sai/khuyến nghị để sửa các lỗi đó.
− Giữ những nhận xét đó và chuyển câu hỏi cho thành viên tiếp theo mà không thảo
luận về phần việc của mình.
* Những lỗi sai phổ biến khi biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan, trắc
nghiệm tự luận
Khi biên soạn câu hỏi, cần tránh các trường hợp sau:
− Các câu hỏi không phù hợp với trình độ của học sinh, diễn đạt không chính xác về
mặt ngôn ngữ, không đưa ra một vấn đề duy nhất, dựa trên những thực tế hiển nhiên.
− Những phương án nhiễu không hợp lí, không gần với đáp án và không đồng đẳng
với nhau, cho phép học sinh đoán được câu trả lời
− Các câu dẫn không định hướng cho tư duy của học sinh. Đưa ra những gợi ý cho
học sinh thông qua sử dụng cú pháp hoặc từ ngữ liên quan.
− Sử dụng ngôn ngữ phủ định. Sử dụng những câu hỏi “ đánh lừa” học sinh. Sử dụng

“Không có phương án nào”, “Tất cả các phương án” hoặc “Phương án khác”.
− Nội dung không phù hợp với tất cả học sinh. Sự phức tạp của ngôn ngữ không phù
hợp với nội dung. Không chỉ có 1 đáp án trả lời đúng.
− Kiểm tra ý kiến trong những câu hỏi để đánh giá kiến thức đã học được của học
sinh.
− Thể hiện định kiến.
* Từ việc biên soạn các câu hỏi kiểm tra để xây dựng ngân hàng câu hỏi gồm các
bước sau:
− Xây dựng kẽ hoạch viết câu hỏi
− Viết/Thu thập các câu hỏi
− Tổ chức rà soát và đánh giá câu hỏi
− Tiẽn hành thử nghiệm câu hỏi trên thực tẽ một mẫu đại diện các học sinh
6

− Tiến hành phân tích câu hỏi và đưa các câu hỏi vê một mặt bằng chung
− Xây dựng/Mua phần mêm máy tính
− Xây dựng kế hoạch để duy trì và cập nhật ngân hàng câu hỏi
Bước 5. Xây dựng hướng dẫn chấm (đáp án) và thang điểm
* Đảm bảo các yêu cầu:
– Nội dung: khoa học và chính xác.
– Cách trình bày: cụ thể, chi tiết nhưng ngắn gọn và dễ hiểu.
– Phù hợp với ma trận đề kiểm tra
* Cách tính điểm
a. Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan
Cách 1: Lấy điểm toàn bài là 10 điểm và chia đều cho tổng số câu hỏi.
Cách 2: Tổng số điểm của đề kiểm tra bằng tổng số câu hỏi. Mỗi câu trả lời đúng được 1
điểm, mỗi câu trả lời sai được 0 điểm.
Sau đó qui điểm của học sinh về thang điểm 10 theo công thức:

b. Đề kiểm tra tự luận
Cách tính điểm tuân thủ chặt chẽ các bước từ B3 đến B6 phần Thiết lập ma trận đề kiểm
tra, khuyến khích giáo viên sử dụng kĩ thuật Rubric trong việc tính điểm và chấm bài tự
luận.
c. Đề kiểm tra kết hợp hình thức tự luận và trắc nghiệm khách quan
Cách 1: Điểm toàn bài là 10 điểm. Phân phối điểm cho mỗi phần TL, TNKQ theo
nguyên tắc: số điểm mỗi phần tỉ lệ thuận với thời gian dự kiến học sinh hoàn thành từng
phần và mỗi câu TNKQ có số điểm bằng nhau.
Cách 2: Điểm toàn bài bằng tổng điểm của hai phần. Phân phối điểm cho mỗi phần theo
nguyên tắc: số điểm mỗi phần tỉ lệ thuận với thời gian dự kiến học sinh hoàn thành từng
phần và mỗi câu TNKQ trả lời đúng được 1 điểm, sai được 0 điểm.
Khi đó cho điểm của phần TNKQ trước rồi tính điểm của phần TL theo công thức sau:
+ XTN là điểm của phần TNKQ;
+ XTL là điểm của phần TL;
+ TTL là số thời gian dành cho việc trả lời phần TL.
+ TTN là số thời gian dành cho việc trả lời phần TNKQ.
Chuyển đổi điểm của học sinh về thang điểm 10 theo công thức:
+ X là số điểm đạt được của HS;
+ Xmax là tổng số điểm của đề.
Bước 6. Điều chỉnh (Nếu thấy cần thiết)
Sau khi biên soạn xong đề kiểm tra cần xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra, gồm
các bước sau:
7

– Đối chiếu từng câu hỏi với hướng dẫn chấm và thang điểm, phát hiện những sai sót
hoặc thiếu chính xác của đề và đáp án. Sửa các từ ngữ, nội dung nếu thấy cần thiết để
đảm bảo tính khoa học và chính xác.
– Đối chiếu từng câu hỏi với ma trận đề, xem xét câu hỏi có phù hợp với chuẩn cần
đánh giá không? Có phù hợp với cấp độ nhận thức cần đánh giá không? Số điểm có

thích hợp không? Thời gian dự kiến có phù hợp không?
– Thử đề kiểm tra để tiếp tục điều chỉnh đề cho phù hợp với mục tiêu, chuẩn chương
trình và đối tượng học sinh (nếu có điều kiện).
– Hoàn thiện đề, hướng dẫn chấm và thang điểm.
PHẦN II. KĨ THUẬT ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC
1. Vận dụng kiểm tra, đánh giá theo hình thức trắc nghiệm, tự luận
* Theo ý kiến của các chuyên gia về trắc nghiệm, ta nên sử dụng tự luận để khảo sát
thành quả học tập trong những trường hợp dưới đây:
− Khi nhóm học sinh được khảo sát không quá đông và đề khảo sát chỉ được sử dụng
một lần, không dùng lại nữa.
− Khi giáo vìên cố gắng tìm mọi cách có thể được để khuyến khích sự phát triển kĩ
năng diễn tả bằng văn viết
− Khi giáo vìên tin tưởng về khả năng phê phán và chấm bài của mình một cách vô
tư và chính xác hơn là vào khả năng soạn thảo những câu trắc nghiệm thật tốt
− Khi không có nhiều thởi gian soạn thảo bài khảo sát nhưng lại có nhiều thời gian
để chấm bài
* Ngược lại, ta nên sử dụng trắc nghiệm khách quan trong những trưởng hợp sau:
− Khi giáo vìên cần khảo sát thành quả học tập của số đông học sinh, hay muốn rằng
bài khảo sát ấy có thể được sử dụng lại vào một lúc khác
− Khi giáo viên muốn có những điểm số đáng tin cậy, không phụ thuộc vào chủ quan
người chấm bài.
− Khi giáo vìên có nhiều câu hỏi trắc nghiệm tốt đã được dự trữ sẵn đề có thể lựa
chọn và soạn lại một bài trắc nghiệm mới và muốn chấm nhanh để sớm công bố kết quả.
− Khi giáo viên muốn ngăn ngừa học tủ, học vẹt.
2. Áp dụng quy trình đánh giá chung và quy trình biên soạn đề kiểm tra trong
đánh giá tổng kết.
* Xác định các bước cùa quy trình đánh giá chung
− Trình bày vấn đề và mục đích đánh giá
− Xác định đối tượng, phạm vi và lĩnh vực đánh giá
− Liệt kê các điều kiện tối thiểu: chỉ ra các điều kiện tối thiểu cần phải có khi đánh

giá.
− Xác định các loại hình và kĩ thuật đánh giá: gồm đánh giá chẩn đoán, đánh giá
tổng kết và đánh giá hình thành và công cụ phù hợp với hình thức đánh giá đó.
− Khai thác và xử lí thông tin: cần phải xác định rõ phương pháp, công cụ phù hợp
với đối tượng để khai thác thông tin
8

* Áp dụng quy trình biên soạn đề kiếm tra trong đánh giá tồng kết
−Xác định mục tiêu của đề kiểm tra
−Xác định Chuẩn kiến thức, kĩ năng
−Xác định hình thức đề kiểm tra:
Đề kiểm tra trắc nghiệm tự luận (gọi tắt là đề tự luận).
Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan.
Đề kiểm tra kết hợp cả hai hình thức trên
− Thiết lập ma trận hai chiều:
Lập một bảng có hai chiều: một chiều nội dung hay mạch kiến thức chính cần đánh
giá, một chiều là các cấp độ nhận thức của học sinh: nhận biết, thông hiểu, vận dụng.
− Thiết kế câu hỏi theo ma trận
− Xây dựng đáp án và biểu điễm.
− Phân tích và xử lí kết quả bài trắc nghiệm.
* Xử lí kết quả thực nghiệm
Kết quả các bài kiểm tra được xử lí theo phương pháp thống kê toán học theo thứ tự sau:
−Lập các bảng phân phối: tần số, tần suất, tần suất luỹ tích.
−Vẽ đồ thị đường luỹ tích từ bảng phân phối tần suất luỹ tích.
−Tính các tham số thống kê đặc trưng.
3. Đánh giá chất lượng câu hỏi trắc nghiệm khách quan
* Câu hỏi nhiều lựa chọn
Hãy đặt ra các câu hỏi dưới đây đối với mỗi câu hỏi đã biên soạn. Nếu một câu hỏi
có câu trả lời là “không”, hãy xem:

− Câu hỏi có thể hiện nội dung, cấp độ nhận thức nêu trong chuẩn chương trình hay
không?
− Câu hỏi có phù hợp với trọng số điểm hay không?
− Câu dẫn có đặt ra câu hỏi trực tiếp hay một vấn đề cụ thể hay không?
− Ngôn ngữ trình bày câu hỏi có tránh giống nguyên bản sách giáo khoa không?
− Từ ngữ và cẩu trúc có rõ ràng và dễ hiểu đối với mọi học sinh không?
− Mọi phương án sai nhìếu có được xây dựng dụa trên các lỗi thông thường của học
sinh không?
− Đáp án của câu hỏi này’ có độc tập với đáp án của các câu hỏi khác không?
− Tất cả các phương án có đồng nhất và phù hợp với nội dung của câu dẫn không?
− Có hạn chế phương án “tất cả các đáp án trên đều đúng”, “không có phương án
nào đúng” không?
− Mọi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng không?
* Câu ghép đôi
− Những câu trả lời có hợp lí đối với các câu hỏi không?
− Có ít hơn 10 câu trả lời trong câu hỏi ghép đôi không?
− Có tránh “ghép đôi hoàn hảo” không?
− Nếu có thể, các yếu tố trong phần trả lời có đuợc sắp xếp theo thứ tự có nghĩa
không (logic, số thứ tự, bảng chữ cái…)?
9

* Câu trả lời ngắnr điền khuyẽt
− Câu hỏi có thể hiện nội dung, cấp độ nhận thức nên trong chuẩn chương trình hay
không?
− Câu hỏi có phù hợp với trọng số điểm hay không?
− Câu trả lời có phải chỉ là một cụm từ, một từ, một giá trị, một kí hiệu không?
− Câu hỏi có chỗ trống để học sinh điền câu trả lời không?
− Câu hỏi có tránh được trích dẫn từ nguyên bản sách giáo khoa không?
− Khoảng trống để điền câu trả lời của câu hỏi này có cùng độ dài với khoảng trống

của các câu hỏi khác không?
− Câu hỏi có chỉ rõ mức độ chi tiết, cụ thể, chính xác của câu trả lời không?
− Câu hỏi có tránh việc đưa ra các đầu mối để tìm ra câu trả lời không?
Câu 2:
Nghiên cứu modul 24 tôi nhận thấy :Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá
kết quả học tập của học sinh là một khâu quan trọng nhằm xác định thành tích học tập và
mức độ chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, vận dụng của người học. Kiểm tra, đánh giá là
hai công việc được tiến hành theo trình tự nhất định hoặc đan xen lẫn nhau nhằm khảo
sát, xem xét về cả định lượng và định tính kết quả học tập, đánh giá mức độ chiếm lĩnh
nội dung học vấn của học sinh. Bởi vậy, cần phải xác định “thước đo” và chuẩn đánh giá
một cách khoa học, khách quan.
Đối với học sinh, nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá có
tác dụng thúc đẩy quá trình học tập phát triển không ngừng. Qua kết quả kiểm tra, học
sinh tự đánh giá mức độ đạt được của bản thân, để có phương pháp tự mình ôn tập, củng
cố bổ sung nhằm hoàn thiện học vấn bằng phương pháp tự học với hệ thống thao tác tư
duy của chính mình.
Đối với giáo viên, kết quả kiểm tra, đánh giá mỗi giáo viên tự đánh giá quá trình
giảng dạy của mình. Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao và hoàn thiện mình về trình
độ học vấn, về phương pháp giảng dạy.
Đánh giá là khâu quan trọng không thể thiếu trong quá trình giáo dục. Do vậy phải
bắt đầu từ khâu ra đề, linh hoạt trong các hình thức kiểm tra:
Ngoài hình thức kiểm tra định kỳ,cần linh hoạt các hình thức kiểm tra bài cũ, bài
tập về nhà, chuẩn bị bài mới của học sinh để hạn chế tình trạng học đối phó của học sinh
Trong thực tế giảng dạy tôi nhận thấy việc đổi mới trong kiểm tra đánh giá trong
những năm gần đây đã thu được kết quả tốt: Trường ta có tỷ lệ học sinh đạt từ TB trở lên
đối với bộ môn Sử `
là trên 90%, trong đó tỷ lệ học sinh thi tốt nghiệp môn sử có
điểm từ TB trở lên cao hơn mặt băng chung của tỉnh.
• Kiến nghị:
10

Nhà trường bổ sung thêm những tài liệu tham khảo về công tác kiểm tra đánh giá học
sinh, tiếp tục bổ sung ngân hàng đề phong phú, thống nhất về nội dung, cấu trúc ra đề
tiếp tục giáo dục cho học sinh có nhận trhuwcs và thái độ đúng đắn trong kiểm tra và thi
cử
Tăng thời lượng vào các bài ôn tập chương, ôn tập cuối kỳ cho học sinh, để công tác
chuẩn bị cho làm bài kiểm tra của học sinh đạt kết quả tốt.
Ngoài ra nhà trường cũng nên thường xuyên tổ chức hướng dẫn để học sinh biết cách tự
đánh giá, học sinh được đánh giá lẫn nhau, mọi sự đổi mới kiểm tra đánh giá phải làm
cho học sinh tích cực hơn, nỗ lực hơn và phải dẫn đến sự biến đổi ở người học (không
chỉ là làm chủ kiến thức, kỹ năng… mà quan trọng hơn thay đổi cả thái độ, niềm tin).
CBQL, GV, cha me học sinh cần nhất quán: học để phát triển các kỹ năng, hình thành
hứng thú, sự tự tin… chứ không phải học vì điểm số. GV phải hình thành ở học sinh khả
năng tự kiểm tra, tự đánh giá. Giáo viên giúp học sinh hiểu rõ nhiệm vụ và có thể tự
mình tổ chức các hoạt động học của mình dưới dự hướng dẫn. Giáo viên phải chọn lựa
kỹ thuật và phương pháp giảng dạy ở trên lớp để kích thích học sinh chủ động chiếm
lĩnh tri thức. Quá trình tổ chức dạy học ấy, GV tôn trọng sự khác biệt, khuyến khích học
sinh phải nỗ lực khám phá tri thức theo cách riêng của mình, kinh nghiệm riêng của
mình, bởi mỗi học sinh học theo những phong cách khác nhau. Có em học thụ động, có
em chủ động, những em thông minh hơn ở lĩnh vực ngôn ngữ, có em thông minh hơn ở
linh vực tính toán suy luận logic… Nhiệm vụ của giáo viên là tổ chức hướng dẫn để học
sinh thể hiện bộc lộc, làm sao để mỗi học sinh nói ra những suy nghĩ (trân trọng mọi suy
nghĩ dù đúng hay sai), tạo mọi cơ hội để HS nêu câu hỏi/thắc mắc, tranh luận với GV…
và được trải nghiệm các tình huống thực tiễn để thực hành những điều mình học. HS
nhận ra những điểm mình còn đang thiếu, những sai sót thông qua phản hồi, đánh giá.
Và đặc biệt nữa là học sinh phải tương tác với nhau để được thể hiện mình, nuôi dưỡng
hứng thú, sự tự tin. Thông qua tương tác (đưa câu hỏi, thảo luận nhóm…) từ đó GV mới
phát hiện được đâu là lỗi/ thiếu sót trong quá trình tư duy, lập luận, biết được trong đầu
HS đang nghĩ gì. Đấy chính là cách dạy học dựa trên tiếp cận quá trình và dựa trên tiếp

cận quá trình thì sẽ hỗ trợ quá trình hình thành năng lực học của học sinh. Và năng lực
học ấy sẽ theo học sinh suốt đời, người ta gọi là năng lực học suốt đời. Đấy mới chính là
năng lực cần đạt ở học sinh khi kết thúc chương trình phổ thông.
Lạng Sơn, tháng 03 năm 2016
Người viết

Dương Anh Vũ
11

Đề kiểm tra là một công cụ dùng để đánh giá tác dụng học tập của học viên sau khihọc xong một chủ đề, một chương, một học kì, một lớp hay một cấp học, nên ngưởi biênsoạn đề kiểm tra cần địa thế căn cứ vào nhu yếu của việc kiểm tra, địa thế căn cứ chuẩn kỹ năng và kiến thức kĩnăng của chương trình và trong thực tiễn học tập của học viên để kiến thiết xây dựng mục tiêu của đềkiểm tra cho tương thích. Bước 2. Xác định hình thức đề kiểm traĐề kiểm tra có những hình thức sau : 1 ) Đề kiểm tra tự luận ; 2 ) Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan ; 3 ) Đề kiểm tra tích hợp cả hai hình thức trên : có cả câu hỏi dạng tự luận và câu hỏidạng trắc nghiệm khách quan. Trong trưởng hợp này nên ra đề riêng cho phần tự luận vàphần trắc nghiệm khách quan độc lập với nhau. Như vậy, xét cho cùng đề kiểm tra có haihình thức cơ bản tự luận và trắc nghiệm khách quan. Mỗi hình thức đều có ưu điểm và hạn chế riêng nên cần tích hợp một cách hợp lýcác hình thức sao cho tương thích với nội dung kiểm tra và đặc trưng môn học để nâng caohiệu quả, tạo điều kiện kèm theo để đánh giá tác dụng học tập của học viên đúng mực hơn. Nếu đề kiểm tra phối hợp hai hình thức thì nên cho học viên làm bài kiểm tra phầntrắc nghiệm khách quan độc lập với việc làm bài kiểm tra phần tự luận : làm phần trắcnghiệm khách quan trước, thu bài rồi mới cho học viên làm phần tự luận. Bước 3. Thiết lập ma trận đề kiểm tra ( bảng diễn đạt tiêu chuẩn của đề kiểm tra ) Lập một bảng có hai chiều, một chiều là nội dung hay mạch kiến thức và kỹ năng chính cầnđánh giá, một chiều là những Lever nhận thức của học viên theo những Lever : phân biệt, thông hiểu và vận dụng ( gồm có vận dụng ở Lever thấp và vận dụng ở Lever cao ). Trong mỗi ô là chuẩn kiến thức và kỹ năng kĩ năng chương trình cần đánh giá, tỉ lệ % sốđiểm, số lượng câu hỏi và tổng số điểm của những câu hỏi. Số lượng câu hỏi của từng ô nhờ vào vào mức độ quan trọng của mỗi chuẩn cầnđánh giá, lượng thởi gian làm bài kiểm tra và trọng số điểm lao lý cho từng mạchkiến thức, từng Lever nhận thức. Dưới đây là một số dạng tổng quát của khung ma trận đề kiểm tra : Mẫu 1 : Khung ma trận đề kiểm tra theo một hình thức ( Dùng cho loại đề kiểm tra TL hoặc TNKQ ) Tên Chủ đề ( nội dung, chương ) Nhận biết ( Lever 1 ) Thông hiểu ( Lever 2 ) Vận dụngCấp độCấp độ thấpcao ( Lever 3 ) ( Lever 4 ) ChuẩnChuẩn KT, KT, KNcần kiểmKNcầntrakiểm tra … câu … câu … điểm … điểmChuẩn KT, Nội dung KNcần kiểmtraChương IChủ đề 1S ố câu … câuSố điểm … điểmTỉ lệ % Chuẩn KT, KNcần kiểmtraChuẩn KT, Nội dung KNcần kiểmChươngtraIIChủ đề 2 Số câu … câuSố điểm … điểmTỉ lệ % Chuẩn KT, KNcần kiểmtraChuẩn KT, KNcần kiểmtra … câu … điểm … câu … điểm … câu … điểmChuẩnKT, KNcầnkiểm tra … câu … điểmCộng … câu … điểm = … % … câu … điểm = … % Chuẩn KT, Nội dung KNcần kiểmChươngtra … câuChủ đề … Số câuSố điểm … điểmTỉ lệ % Chuẩn KT, KNcần kiểmtraChuẩn KT, KNcần kiểmtra … câu … điểm … câu … điểmChuẩnKT, KNcầnkiểm tra … câu … điểm … câu … điểm = … % Mẫu 2 : Khung ma trận đề kiểm tra phối hợp cả hai hình thức ( Dùng cho loại đề kiểm tra phối hợp TL và TNKQ ) Tên chủ đề ( nội dung, chương … ) Nhận biết ( Lever 1 ) Thông hiểu ( Lever 2 ) TNKQ TLTNKQTLChuẩnChuẩn Chuẩn ChuẩnKT, NộiKT, KT, KT, KNcầndungKNcần KNcần KNcầnkiểmChươngkiểm tra kiểm tra kiểm tratraChủ đề Số câu … câu … câu … câu … câuSố … điểm … điểm … điểm … điểmđiểmVận dụngCấp độ thấpCấp độ cao ( Lever 3 ) ( Lever 4 ) TNKQTLTNKQTLCộngChuẩn Chuẩn Chuẩn ChuẩnKT, KT, KT, KT, KNcần KNcần KNcần KNcầnkiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra … câu … câu … câu … câu … câu … điểm … điểm … điểm … điểm … điểmTỉ lệ % = … % ChuẩnChuẩn Chuẩn ChuẩnKT, NộiKT, KT, KT, KNcầndungKNcần KNcần KNcầnkiểmChươngkiểm tra kiểm tra kiểm tratraIIChủ đề Số câu … câu … câu … câu … câuSố … điểm … điểm … điểm … điểmđiểmChuẩn Chuẩn Chuẩn ChuẩnKT, KT, KT, KT, KNcần KNcần KNcần KNcầnkiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra … câu … câu … câu … câu … câu … điểm … điểm … điểm … điểm … điểmTỉ lệ % = … % ChuẩnChuẩn Chuẩn Chuẩn Chuẩn Chuẩn Chuẩn ChuẩnKT, Chương NộiKT, KT, KT, KT, KT, KT, KT, KNcần … dungKNcần KNcần KNcần KNcần KNcần KNcần KNcầnkiểmChủ đềkiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tra kiểm tratra … Số câu … câu … câu … câu … câu … câu … câu … câu … câuSố … điểm … điểm … điểm … điểm … điểm … điểm … điểm … điểmđiểmTỉ lệ % … câu … điểm = … % * Các bước cơ bản thiết lập ma trận đề kiểm tra : − Bước 1 : liệt kê tên những chủ đề ( nội dung, chương … ) cần kiểm tra. − Bước 2 : Viết những chuẩn cần đánh giá so với mọi Lever tư duy. − Bước 3 : Quyết định phân phối tỉ lệ % tổng điểm cho mỗi chủ đề ( nội dung, chương … ). − Bước 4 : Quyết định tổng số điểm của bài kiểm tra. − Bước 5 : Tính số điểm cho mọi chú đề ( nội dung, chương … ) tương ứng với tỉ lệ %. − Bước 6 : Tính tỉ lệ %, số điểm và quyết định hành động số câu hỏi cho mọi chuẩn tương úng. − Bước 7 : Tính tổng số điểm và tổng số câu hỏi cho mỗi cột. − Bước 8 : Tính tỉ lệ % tổng số điểm phân phối cho mỗi cột. − Bước 9 : Đánh giá lại ma trận và chỉnh sửa nếu thấy thiết yếu. * Cần chú ý quan tâm − Khi viết những chuẩn, cần đánh giá so với mỗi Lever tư duy. − Quyết định tỉ lệ % tổng điểm phân phối cho mỗi chủ đề ( nội dung, chương … ) − Tính số điểm và quyết định hành động số câu hỏi cho mỗi chuẩn tương ứng. * Mô tả về những cầp độ tư duy : Nhận biết, Thông hiểu, Vận dụng ở Lever thấp vàVận dụng ở Lever cao. * Xác định Lever tư duy dựa trên những cơ sở sau : − Căn cứ vào chuẩn kỹ năng và kiến thức, kĩ năng của chương trình giáo dục phổ thông + Kiến thức trong chuẩn ghi là biết được thì xác lập ở cẩp độ “ biết ” ; + Kiến thức trong chuẩn ghi là hiểu được thì xác lập ở cẩp độ “ hiểu ” + Kiến thức trong chuẩn ghi ở phần kĩ năng thi xác lập là Lever “ vận đụng “. − Những kiến thức và kỹ năng, kĩ năng tích hợp giữa phần “ hiểu được ” và phần “ kĩ năng ” đượcxác định ở Lever “ vận dụng ở mức độ cao hơn “. − Chú ý khi xác lập những chuẩn cần đánh giá so với mọi Lever tư duy. − Các khâu cơ bản phong cách thiết kế ma trận đề kiểm tra. Bước 4. Biên soạn câu hỏi theo ma trận * Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan : Câu vấn đáp ngắn, câu đúng sai, câu nhiềulựa chọn, câu ghép đôi, câu điền khuyết. Với những loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan, giáo viên phải hiểu rõ đặc thù, tác dụng của mỗi loại để lựa chọn loại nào thích hợp với tiềm năng khảo sát hoặc mụctiêu dạy học. Các loại câu hỏi trắc nghiệm khách quan trên đây đều đuợc sử dụng cóhiệu quả trong giở lên lớp. Tuy nhiên lúc bấy giờ, trong những đề bài kiểm tra 1 tiết, học kỳ, cuối năm … ( trong đánh giá tổng kết ) ngưởi ta thường dùng những câu hỏi nhiều lựa chọn, vì : Khả năng phân biệt học viên cao, đánh giá được kỹ năng và kiến thức của học viên trên một diệnrộng ; hạn chế được năng lực học tủ, học lệch, học vẹt của học viên, chấm điểm kháchquan, nhanh gọn, đúng mực, hoàn toàn có thể sử dụng công nghệ thông tin để chấm. * Việc biên soạn câu hỏi theo ma trận cần bảo vệ : loại câu hỏi, số câu hỏi và nộidung câu hỏi do ma trận đề lao lý, mỗi câu hỏi trắc nghiệm khách quan chỉ kiểm tramột chuẩn hoặc một yếu tố, khái niệm. * Các nhu yếu so với câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn. − Câu hỏi phải đánh giá những nội dung quan trọng của chương trình ; − Câu hỏi phải tương thích với những tiêu chuẩn ra đề kiểm tra về mặt trình diễn và số điểmtương ứng ; − Câu dẫn phải đặt ra câu hỏi trực tiếp hoặc một yếu tố đơn cử ; − Không trích dẫn nguyên văn những câu có sẵn trong sách giáo khoa ; − Từ ngữ, cấu trúc của câu hỏi phải rõ ràng và dễ hiểu so với mọi học viên ; − Mỗi giải pháp nhiễu phải hài hòa và hợp lý so với những học viên không nắm vững kiếnthức − Mỗi giải pháp sai nên thiết kế xây dựng dựa trên những lỗi hay nhận thức rơi lệch của họcsinh − Đáp án đúng của câu hỏi này phải độc lập với đáp án đúng của những câu hỏi kháctrong bài kiểm tra ; − Phần lựa chọn phải thống nhất và tương thích với nội dung của câu dẫn ; − Mỗi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng, đúng mực nhất ; − Không đưa ra giải pháp “ Tất cả những đáp án trên đều đúng ” hoặc “ không cóphương án nào đúng ”. * Các nhu yếu so với câu hỏi tự luận − Câu hỏi phải đánh giá nội dung quan trọng của chương trình ; − Câu hỏi phải tương thích với những tiêu chuẩn ra đề kiểm tra về mặt trình diễn và số điểmtương ứng ; − Câu hỏi nhu yếu học viên phải vận dụng kỹ năng và kiến thức vào những trường hợp mới ; − Câu hỏi biểu lộ rõ nội dung và Lever tư duy cần đo ; − Nội dung câu hỏi đặt ra một nhu yếu và những hướng dẫn đơn cử về cách triển khai yêucầu đó ; − Yêu cầu của thắc mắc tương thích với trình độ và nhận thức của học viên ; − Yêu cầu học viên phải am hiểu nhiều hơn là ghi nhớ những khái niệm, thông tin ; − Ngôn ngữ sử dụng trong câu hỏi phải truyền tải được hết những nhu yếu của cán bộra đề đến học viên ; − Khi viết câu hỏi nên quan tâm những yếu tố : Độ dài của bài làm ( câu vấn đáp ) ; Mục đíchbài kiểm tra ; Thời gian để viết bài kiểm tra ; Các tiêu chuẩn cần đạt. − Nếu câu hỏi nhu yếu học viên nêu quan điểm và chứng tỏ cho quan điểm củamình, câu hỏi cần nêu rõ : bài làm của học viên sẽ được đánh giá dựa trên những lập luậnlogic mà học viên đó đưa ra để chứng tỏ và bảo vệ quan điểm của mình chứ khôngchỉ đơn thuần là nêu quan điểm đó. * Quy trình viết câu hỏi trắc nghiệm khách quanDự thảo câu hỏi : Thu thập những tài liệu nguồn ; Kiểm tra quyền tác giả của những tài liệu và xin phép sửdụng nếu thiết yếu ; Phân chia tiêu chuẩn kĩ thuật đề kiểm tra ; Phân bố việc hướng dẫn viếtcâu hỏi ; Những tham số tác động ảnh hưởng đến đề kiểm tra ; Rà soát những đề kiểm tra trước đó ; Xác định những câu hỏi mẫu và những dạng câu hỏi ; Dự thảo câu hỏi sử dụng cấu trúc củacâu hỏi. Viẽt câu hỏi : Dùng từ để hỏi trong câu dẫn ; Viết những câu hỏi dạng chứng minh và khẳng định ; Diễn đạtnhiệm vụ rõ ràng ; Sử dụng những từ ngữ có nghĩa rõ ràng, đơn thuần ; Đảm bảo rằngnhững đáp án đúng thực sự đúng ; Kiểm tra lỗi ngữ pháp ; Các giải pháp nhiễu cần có vẻđúng ; Không sử dụng “ Không có giải pháp nào ” ; Sắp xếp đề kiểm tra sao cho cácphương án lựa chọn ( A, B, C, D so với câu hỏi trắc nghiệm ) được sắp xếp ngẫu nhiên ; Phù hợp với năng lực của đối tượng người dùng học viên được kiểm tra. Làm việc nhóm chuyên viên / hội đồng thẩm địnhRà soát những câu hỏi trải qua một nhóm chuyên viên / hội đồng, trong đó có một thànhviên được bầu làm nhóm trưởng. − Lựa chọn những câu hỏi để xem xét. − Nhóm chuyên viên / hội đồng cần có nhiều câu hỏi. − Đồng thời cần có nhiều giải pháp nhiễu hơn mức thiết yếu cho mỗi câu hỏi. − Thành tập một nhóm gồm tối đa 10 chuyên viên môn học. − Bổ nhiệm một thành vìên làm quản trị để trấn áp quy trình thanh tra rà soát câu hỏi. − Lựa chọn những câu hỏi để thanh tra rà soát. − Cung cấp cho mọi thành viên của hội đồng 1 câu hỏi. − Đánh dấu những câu hỏi. − Mọi thành viên hội đồng sẽ thanh tra rà soát câu hỏi mình được giao và ghi chú về những lỗisai / khuyến nghị để sửa những lỗi đó. − Giữ những nhận xét đó và chuyển câu hỏi cho thành viên tiếp theo mà không thảoluận về phần việc của mình. * Những lỗi sai thông dụng khi biên soạn câu hỏi trắc nghiệm khách quan, trắcnghiệm tự luậnKhi biên soạn câu hỏi, cần tránh những trường hợp sau : − Các câu hỏi không tương thích với trình độ của học viên, diễn đạt không đúng mực vềmặt ngôn từ, không đưa ra một yếu tố duy nhất, dựa trên những thực tiễn hiển nhiên. − Những giải pháp nhiễu không hợp lý, không gần với đáp án và không đồng đẳngvới nhau, được cho phép học viên đoán được câu vấn đáp − Các câu dẫn không khuynh hướng cho tư duy của học viên. Đưa ra những gợi ý chohọc sinh trải qua sử dụng cú pháp hoặc từ ngữ tương quan. − Sử dụng ngôn từ phủ định. Sử dụng những câu hỏi “ đánh lừa ” học viên. Sử dụng “ Không có giải pháp nào “, “ Tất cả những giải pháp ” hoặc “ Phương án khác “. − Nội dung không tương thích với toàn bộ học viên. Sự phức tạp của ngôn từ không phùhợp với nội dung. Không chỉ có 1 đáp án vấn đáp đúng. − Kiểm tra quan điểm trong những câu hỏi để đánh giá kiến thức và kỹ năng đã học được của họcsinh. − Thể hiện định kiến. * Từ việc biên soạn những câu hỏi kiểm tra để kiến thiết xây dựng ngân hàng nhà nước câu hỏi gồm cácbước sau : − Xây dựng kẽ hoạch viết câu hỏi − Viết / Thu thập những câu hỏi − Tổ chức thanh tra rà soát và đánh giá câu hỏi − Tiẽn hành thử nghiệm câu hỏi trên thực tẽ một mẫu đại diện thay mặt những học viên − Tiến hành nghiên cứu và phân tích câu hỏi và đưa những câu hỏi vê một mặt phẳng chung − Xây dựng / Mua phần mêm máy tính − Xây dựng kế hoạch để duy trì và update ngân hàng nhà nước câu hỏiBước 5. Xây dựng hướng dẫn chấm ( đáp án ) và thang điểm * Đảm bảo những nhu yếu : – Nội dung : khoa học và đúng mực. – Cách trình diễn : đơn cử, cụ thể nhưng ngắn gọn và dễ hiểu. – Phù hợp với ma trận đề kiểm tra * Cách tính điểma. Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quanCách 1 : Lấy điểm toàn bài là 10 điểm và chia đều cho tổng số câu hỏi. Cách 2 : Tổng số điểm của đề kiểm tra bằng tổng số câu hỏi. Mỗi câu vấn đáp đúng được 1 điểm, mỗi câu vấn đáp sai được 0 điểm. Sau đó qui điểm của học viên về thang điểm 10 theo công thức : b. Đề kiểm tra tự luậnCách tính điểm tuân thủ ngặt nghèo những bước từ B3 đến B6 phần Thiết lập ma trận đề kiểmtra, khuyến khích giáo viên sử dụng kĩ thuật Rubric trong việc tính điểm và chấm bài tựluận. c. Đề kiểm tra tích hợp hình thức tự luận và trắc nghiệm khách quanCách 1 : Điểm toàn bài là 10 điểm. Phân phối điểm cho mỗi phần TL, TNKQ theonguyên tắc : số điểm mỗi phần tỉ lệ thuận với thời hạn dự kiến học viên hoàn thành xong từngphần và mỗi câu TNKQ có số điểm bằng nhau. Cách 2 : Điểm toàn bài bằng tổng điểm của hai phần. Phân phối điểm cho mỗi phần theonguyên tắc : số điểm mỗi phần tỉ lệ thuận với thời hạn dự kiến học viên hoàn thành xong từngphần và mỗi câu TNKQ vấn đáp đúng được 1 điểm, sai được 0 điểm. Khi đó cho điểm của phần TNKQ trước rồi tính điểm của phần TL theo công thức sau : + XTN là điểm của phần TNKQ ; + XTL là điểm của phần TL ; + TTL là số thời hạn dành cho việc vấn đáp phần TL. + TTN là số thời hạn dành cho việc vấn đáp phần TNKQ.Chuyển đổi điểm của học viên về thang điểm 10 theo công thức : + X là số điểm đạt được của HS ; + Xmax là tổng số điểm của đề. Bước 6. Điều chỉnh ( Nếu thấy thiết yếu ) Sau khi biên soạn xong đề kiểm tra cần xem xét lại việc biên soạn đề kiểm tra, gồmcác bước sau : – Đối chiếu từng câu hỏi với hướng dẫn chấm và thang điểm, phát hiện những sai sóthoặc thiếu đúng mực của đề và đáp án. Sửa những từ ngữ, nội dung nếu thấy thiết yếu đểđảm bảo tính khoa học và đúng mực. – Đối chiếu từng câu hỏi với ma trận đề, xem xét câu hỏi có tương thích với chuẩn cầnđánh giá không ? Có tương thích với Lever nhận thức cần đánh giá không ? Số điểm cóthích hợp không ? Thời gian dự kiến có tương thích không ? – Thử đề kiểm tra để liên tục kiểm soát và điều chỉnh đề cho tương thích với tiềm năng, chuẩn chươngtrình và đối tượng người tiêu dùng học viên ( nếu có điều kiện kèm theo ). – Hoàn thiện đề, hướng dẫn chấm và thang điểm. PHẦN II. KĨ THUẬT ĐÁNH GIÁ TRONG DẠY HỌC1. Vận dụng kiểm tra, đánh giá theo hình thức trắc nghiệm, tự luận * Theo quan điểm của những chuyên viên về trắc nghiệm, ta nên sử dụng tự luận để khảo sátthành quả học tập trong những trường hợp dưới đây : − Khi nhóm học viên được khảo sát không quá đông và đề khảo sát chỉ được sử dụngmột lần, không dùng lại nữa. − Khi giáo vìên nỗ lực tìm mọi cách hoàn toàn có thể được để khuyến khích sự tăng trưởng kĩnăng diễn đạt bằng văn viết − Khi giáo vìên tin yêu về năng lực phê phán và chấm bài của mình một cách vôtư và đúng mực hơn là vào năng lực soạn thảo những câu trắc nghiệm thật tốt − Khi không có nhiều thởi gian soạn thảo bài khảo sát nhưng lại có nhiều thời gianđể chấm bài * Ngược lại, ta nên sử dụng trắc nghiệm khách quan trong những trưởng hợp sau : − Khi giáo vìên cần khảo sát thành quả học tập của số đông học viên, hay muốn rằngbài khảo sát ấy hoàn toàn có thể được sử dụng lại vào một lúc khác − Khi giáo viên muốn có những điểm số đáng đáng tin cậy, không nhờ vào vào chủ quanngười chấm bài. − Khi giáo vìên có nhiều câu hỏi trắc nghiệm tốt đã được dự trữ sẵn đề hoàn toàn có thể lựachọn và soạn lại một bài trắc nghiệm mới và muốn chấm nhanh để sớm công bố tác dụng. − Khi giáo viên muốn ngăn ngừa học tủ, học vẹt. 2. Áp dụng quá trình đánh giá chung và quá trình biên soạn đề kiểm tra trongđánh giá tổng kết. * Xác định những bước cùa quá trình đánh giá chung − Trình bày yếu tố và mục tiêu đánh giá − Xác định đối tượng người dùng, khoanh vùng phạm vi và nghành đánh giá − Liệt kê những điều kiện kèm theo tối thiểu : chỉ ra những điều kiện kèm theo tối thiểu cần phải có khi đánhgiá. − Xác định những mô hình và kĩ thuật đánh giá : gồm đánh giá chẩn đoán, đánh giátổng kết và đánh giá hình thành và công cụ tương thích với hình thức đánh giá đó. − Khai thác và xử lí thông tin : cần phải xác lập rõ giải pháp, công cụ phù hợpvới đối tượng người tiêu dùng để khai thác thông tin * Áp dụng tiến trình biên soạn đề kiếm tra trong đánh giá tồng kết − Xác định tiềm năng của đề kiểm tra − Xác định Chuẩn kiến thức và kỹ năng, kĩ năng − Xác định hình thức đề kiểm tra : Đề kiểm tra trắc nghiệm tự luận ( gọi tắt là đề tự luận ). Đề kiểm tra trắc nghiệm khách quan. Đề kiểm tra phối hợp cả hai hình thức trên − Thiết lập ma trận hai chiều : Lập một bảng có hai chiều : một chiều nội dung hay mạch kỹ năng và kiến thức chính cần đánhgiá, một chiều là những Lever nhận thức của học viên : nhận ra, thông hiểu, vận dụng. − Thiết kế câu hỏi theo ma trận − Xây dựng đáp án và biểu điễm. − Phân tích và xử lí tác dụng bài trắc nghiệm. * Xử lí kết quả thực nghiệmKết quả những bài kiểm tra được xử lí theo giải pháp thống kê toán học theo thứ tự sau : − Lập những bảng phân phối : tần số, tần suất, tần suất luỹ tích. − Vẽ đồ thị đường luỹ tích từ bảng phân phối tần suất luỹ tích. − Tính những tham số thống kê đặc trưng. 3. Đánh giá chất lượng câu hỏi trắc nghiệm khách quan * Câu hỏi nhiều lựa chọnHãy đặt ra những câu hỏi dưới đây so với mỗi câu hỏi đã biên soạn. Nếu một câu hỏicó câu vấn đáp là “ không “, hãy xem : − Câu hỏi có bộc lộ nội dung, Lever nhận thức nêu trong chuẩn chương trình haykhông ? − Câu hỏi có tương thích với trọng số điểm hay không ? − Câu dẫn có đặt ra câu hỏi trực tiếp hay một yếu tố đơn cử hay không ? − Ngôn ngữ trình diễn câu hỏi có tránh giống nguyên bản sách giáo khoa không ? − Từ ngữ và cẩu trúc có rõ ràng và dễ hiểu so với mọi học viên không ? − Mọi giải pháp sai nhìếu có được kiến thiết xây dựng dụa trên những lỗi thường thì của họcsinh không ? − Đáp án của câu hỏi này ‘ có độc tập với đáp án của những câu hỏi khác không ? − Tất cả những giải pháp có như nhau và tương thích với nội dung của câu dẫn không ? − Có hạn chế giải pháp “ toàn bộ những đáp án trên đều đúng “, “ không có phương ánnào đúng ” không ? − Mọi câu hỏi chỉ có một đáp án đúng không ? * Câu ghép đôi − Những câu vấn đáp có hợp lý so với những câu hỏi không ? − Có ít hơn 10 câu vấn đáp trong câu hỏi ghép đôi không ? − Có tránh “ ghép đôi tuyệt đối ” không ? − Nếu hoàn toàn có thể, những yếu tố trong phần vấn đáp có đuợc sắp xếp theo thứ tự có nghĩakhông ( logic, số thứ tự, bảng vần âm … ) ? * Câu vấn đáp ngắnr điền khuyẽt − Câu hỏi có biểu lộ nội dung, Lever nhận thức nên trong chuẩn chương trình haykhông ? − Câu hỏi có tương thích với trọng số điểm hay không ? − Câu vấn đáp có phải chỉ là một cụm từ, một từ, một giá trị, một kí hiệu không ? − Câu hỏi có chỗ trống để học viên điền câu vấn đáp không ? − Câu hỏi có tránh được trích dẫn từ nguyên bản sách giáo khoa không ? − Khoảng trống để điền câu vấn đáp của câu hỏi này có cùng độ dài với khoảng chừng trốngcủa những câu hỏi khác không ? − Câu hỏi có chỉ rõ mức độ cụ thể, đơn cử, đúng mực của câu vấn đáp không ? − Câu hỏi có tránh việc đưa ra những đầu mối để tìm ra câu vấn đáp không ? Câu 2 : Nghiên cứu modul 24 tôi nhận thấy : Trong quy trình dạy học, kiểm tra đánh giákết quả học tập của học viên là một khâu quan trọng nhằm mục đích xác lập thành tích học tập vàmức độ sở hữu kiến thức và kỹ năng, kiến thức và kỹ năng, vận dụng của người học. Kiểm tra, đánh giá làhai việc làm được triển khai theo trình tự nhất định hoặc đan xen lẫn nhau nhằm mục đích khảosát, xem xét về cả định lượng và định tính hiệu quả học tập, đánh giá mức độ chiếm lĩnhnội dung học vấn của học viên. Bởi vậy, cần phải xác lập “ thước đo ” và chuẩn đánh giámột cách khoa học, khách quan. Đối với học viên, nhân vật TT của quy trình dạy học, kiểm tra, đánh giá cótác dụng thôi thúc quy trình học tập tăng trưởng không ngừng. Qua tác dụng kiểm tra, họcsinh tự đánh giá mức độ đạt được của bản thân, để có chiêu thức tự mình ôn tập, củngcố bổ trợ nhằm mục đích hoàn thành xong học vấn bằng giải pháp tự học với mạng lưới hệ thống thao tác tưduy của chính mình. Đối với giáo viên, hiệu quả kiểm tra, đánh giá mỗi giáo viên tự đánh giá quá trìnhgiảng dạy của mình. Trên cơ sở đó không ngừng nâng cao và triển khai xong mình về trìnhđộ học vấn, về chiêu thức giảng dạy. Đánh giá là khâu quan trọng không hề thiếu trong quy trình giáo dục. Do vậy phảibắt đầu từ khâu ra đề, linh động trong những hình thức kiểm tra : Ngoài hình thức kiểm tra định kỳ, cần linh động những hình thức kiểm tra bài cũ, bàitập về nhà, chuẩn bị sẵn sàng bài mới của học viên để hạn chế thực trạng học đối phó của học sinhTrong trong thực tiễn giảng dạy tôi nhận thấy việc thay đổi trong kiểm tra đánh giá trongnhững năm gần đây đã thu được tác dụng tốt : Trường ta có tỷ suất học viên đạt từ TB trở lênđối với bộ môn Sử ` là trên 90 %, trong đó tỷ suất học viên thi tốt nghiệp môn sử cóđiểm từ TB trở lên cao hơn mặt băng chung của tỉnh. • Kiến nghị : 10N hà trường bổ trợ thêm những tài liệu tìm hiểu thêm về công tác làm việc kiểm tra đánh giá họcsinh, liên tục bổ trợ ngân hàng nhà nước đề nhiều mẫu mã, thống nhất về nội dung, cấu trúc ra đềtiếp tục giáo dục cho học viên có nhận trhuwcs và thái độ đúng đắn trong kiểm tra và thicửTăng thời lượng vào những bài ôn tập chương, ôn tập cuối kỳ cho học viên, để công tácchuẩn bị cho làm bài kiểm tra của học viên đạt tác dụng tốt. Ngoài ra nhà trường cũng nên tiếp tục tổ chức triển khai hướng dẫn để học viên biết cách tựđánh giá, học viên được đánh giá lẫn nhau, mọi sự thay đổi kiểm tra đánh giá phải làmcho học viên tích cực hơn, nỗ lực hơn và phải dẫn đến sự biến hóa ở người học ( khôngchỉ là làm chủ kỹ năng và kiến thức, kiến thức và kỹ năng … mà quan trọng hơn đổi khác cả thái độ, niềm tin ). CBQL, GV, cha me học viên cần đồng nhất : học để tăng trưởng những kiến thức và kỹ năng, hình thànhhứng thú, sự tự tin … chứ không phải học vì điểm số. GV phải hình thành ở học viên khảnăng tự kiểm tra, tự đánh giá. Giáo viên giúp học viên hiểu rõ trách nhiệm và hoàn toàn có thể tựmình tổ chức triển khai những hoạt động học của mình dưới dự hướng dẫn. Giáo viên phải chọn lựakỹ thuật và giải pháp giảng dạy ở trên lớp để kích thích học viên dữ thế chủ động chiếmlĩnh tri thức. Quá trình tổ chức triển khai dạy học ấy, GV tôn trọng sự độc lạ, khuyến khích họcsinh phải nỗ lực mày mò tri thức theo cách riêng của mình, kinh nghiệm tay nghề riêng củamình, bởi mỗi học sinh học theo những phong thái khác nhau. Có em học thụ động, cóem dữ thế chủ động, những em mưu trí hơn ở nghành ngôn từ, có em mưu trí hơn ởlinh vực đo lường và thống kê suy luận logic … Nhiệm vụ của giáo viên là tổ chức triển khai hướng dẫn để họcsinh biểu lộ bộc lộc, làm thế nào để mỗi học viên nói ra những tâm lý ( trân trọng mọi suynghĩ dù đúng hay sai ), tạo mọi thời cơ để HS nêu câu hỏi / vướng mắc, tranh luận với GV … và được thưởng thức những trường hợp thực tiễn để thực hành thực tế những điều mình học. HSnhận ra những điểm mình còn đang thiếu, những sai sót trải qua phản hồi, đánh giá. Và đặc biệt quan trọng nữa là học viên phải tương tác với nhau để được biểu lộ mình, nuôi dưỡnghứng thú, sự tự tin. Thông qua tương tác ( đưa câu hỏi, luận bàn nhóm … ) từ đó GV mớiphát hiện được đâu là lỗi / thiếu sót trong quy trình tư duy, lập luận, biết được trong đầuHS đang nghĩ gì. Đấy chính là cách dạy học dựa trên tiếp cận quy trình và dựa trên tiếpcận quy trình thì sẽ tương hỗ quy trình hình thành năng lực học của học viên. Và năng lựchọc ấy sẽ theo học viên suốt đời, người ta gọi là năng lực học suốt đời. Đấy mới chính lànăng lực cần đạt ở học viên khi kết thúc chương trình đại trà phổ thông. Lạng Sơn, tháng 03 năm 2016N gười viếtDương Anh Vũ11

You may also like

Để lại bình luận