CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ – Khảo thí online

Bởi tuhocmoithu

Kiểm tra, đánh giá là một phần không thể thiếu trong giáo dục và đào tạo, luôn được xã hội quan tâm và là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục trong nhiều năm nay. Để nâng cao chất lượng dạy và học, vì sự phát triển của thế hệ tương lai, cần có sự cải tiến về nội dung, hình thức, phương pháp. Và để làm được điều đó, trước hết người giáo viên, quản lý cần nhận thức được những vấn đề cơ bản, phân loại rõ ràng và ý nghĩa to lớn của việc kiểm tra, đánh giá trong hoạt động dạy và học.

Hiện nay, một số người còn ngộ nhận, chưa phân biệt rõ ràng các loại hình kiểm tra, đánh giá, thậm chí nhầm lẫn giữa kiểm tra và đánh giá. Thực ra ĐÁNH GIÁ là một quá trình, một khái niệm rộng, còn KIỂM TRA chỉ dạng thức cơ bản, quen thuộc, là một khâu quan trọng trong quá trình đánh giá mà thôi.

Trong bài viết này, Khaothi. Online xin san sẻ tới quý fan hâm mộ những khái niệm về kiểm tra, những hình thức, giải pháp và những quan tâm khi kiểm tra. Đồng thời trình làng những khái niệm tương quan tới quá trình đánh giá học viên .

KIỂM TRA  

Khái niệm kiểm tra: Theo Từ điển Tiếng Việt, kiểm tra được hiểu là: Xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét. Như vậy, việc kiểm tra sẽ cung cấp những dữ kiện, những thông tin cần thiết làm cơ sở cho việc đánh giá học sinh, 

Các hình thức kiểm tra: Trong dạy học, người ta thường sử dụng các hình thức kiểm tra: kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, kiểm tra tổng kết.

a. Kiểm tra thường xuyên. 

  • Mục đích của kiểm tra thường xuyên:
    • Kịp thời điều chỉnh hoạt động dạy học của thầy giáo và học sinh.
    • Thúc đẩy học sinh cố gắng tích cực làm việc một cách liên tục, có hệ thống.
    • Tạo điều kiện vững chắc để quá trình dạy học chuyển dần sang những bước mới.
  • Kiểm tra thường xuyên được tiến hành: 
    • Quan sát hoạt động của lớp, của mỗi học sinh có tính hệ thống.
    • Qua quá trình học bài mới 
    • Qua việc ôn tập, củng cố bài cũ 
    • Qua việc vận dụng tri thức vào thực tiễn. 

b. Kiểm tra định kỳ 

  • Kiểm tra định kỳ thường được tiến hành sau khi:
    • Học xong một số chương 
    • Học xong một phần chương trình 
    • Học xong một học kỳ 
  • Tác dụng của kiểm tra định kỳ
    • Giúp thầy trò nhìn nhận lại kết quả hoạt động sau một thời gian nhất định.
    • Đánh giá được việc nắm tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh sau một thời hạn nhất định. 
    • Giúp cho học sinh củng cố, mở rộng tri thức đã học.
    • Tạo cơ sở để học sinh tiếp tục học sang những phần mới, chương mới.

c. Kiểm tra tổng kết  

  • Hình thức kiểm tra tổng kết được thực hiện vào: cuối giáo trình, cuối môn học, cuối năm.
  • Kiểm tra tổng kết nhằm:
    • Đánh giá kết quả chung 
    • Củng cố, mở rộng toàn bộ tri thức đã học từ đầu năm, đầu môn học, đầu giáo trình,
    • Tạo điều kiện để học sinh chuyển sang học môn học mới, năm học mới.

Một số điểm cần lưu ý: Giáo viên không nên chỉ căn cứ vào kết quả kiểm tra định kỳ, kiểm tra tổng kết để đánh giá học sinh, phải kết hợp với việc kiểm tra thường xuyên, phải theo dõi hàng ngày mới giúp cho người giáo viên đánh giá đúng, chính xác thực chất trình độ của học sinh.

Khi tiến hành kiểm tra cần chú ý: Tránh có lời nói nặng nề, phạt học sinh; nên khuyến khích, động viên những tiến bộ của học sinh dù cho đó là những tiến bộ nhỏ. Khi phát hiện được nguyên nhân những sai sót, lệch lạc nên có biện pháp giúp đỡ kịp thời.

Các phương pháp kiểm tra 

Các hình thức kiểm tra nêu trên được thực thi bằng những giải pháp : kiểm tra miệng, kiểm tra viết và kiểm tra thực hành thực tế .

a. Kiểm tra miệng: 

  • Phương pháp kiểm tra miệng được sử dụng: 
    • Trước khi học bài mới 
    • Trong quá trình học bài mới 
    • Sau khi học xong bài mới 
    • Thi cuối học kỳ 
    • Thi cuối năm học 
  • Phương pháp kiểm tra miệng có tác dụng: 
    • Tạo cho người giáo viên thu được tín hiệu ngược nhanh chóng từ học sinh có những trình độ khác nhau.
    • Thúc đẩy cho học sinh học tập thường xuyên, có hệ thống, liên tục.
    • Giúp học sinh rèn luyện kĩ năng biểu đạt bằng ngôn ngữ một cách nhanh, gọn, chính xác, rõ ràng.
  • Tuy nhiên, phương pháp kiểm tra miệng cũng có nhược điểm nếu giáo viên sử dụng nó không khéo léo, như:
    • Một bộ phận học sinh thường thụ động trong khi kiểm tra.
    • Mất nhiều thời gian.  
  • Các yêu cầu khi kiểm tra miệng
    • Tạo điều kiện cho tất cả học sinh trả lời đầy đủ câu hỏi đề ra
    • Giáo viên nghiên cứu kỹ những kiến thức cơ bản của bài, nắm chắc chương trình, chuẩn bị kiến thức tối thiểu do quy định.
    • Dung lượng kiến thức trong mỗi câu hỏi vừa phải, sát trình độ học sinh, học sinh có thể trả lời ngắn gọn trong vài phút.
    • Sau khi nêu câu hỏi cho cả lớp, cần có thời gian ngắn để học sinh chuẩn bị, sau đó mới chỉ định học sinh trả lời câu hỏi.
    • Thái độ và cách ứng xử của giáo viên đối với học sinh có ảnh hưởng trong kiểm tra.
    • Sự hiểu biết của giáo viên về tính cách của học sinh, sự tế nhị và nhạy cảm là những yếu tố giúp cho người thầy giáo thấy rõ thực chất trình độ kiến thức, kĩ năng của học sinh được kiểm tra.
    • Cần kiên trì nghe học sinh trình bày. 
    • Khi cần thiết, phải biết gợi ý, không làm cho các em sợ hãi lúng túng.
    • Yêu cầu học sinh trả lời sao cho cả lớp nghe được và yêu cầu cả lớp theo dõi câu trả lời của bạn và bổ sung khi cần thiết.
    • Phải có nhận xét ưu khuyết điểm trong câu trả lời của học sinh về hình thức trình bày, nội dung, tinh thần thái độ .
    • Phải công bố điểm công khai. 
    • Phải ghi điểm vào sổ điểm của lớp và sổ điểm cá nhân của mình.

b. Kiểm tra viết 

  • Kiểm tra viết được sử dụng:
    • Sau khi học xong một phần 
    • Sau khi học xong một chương, nhiều chương
    • Sau khi học xong toàn giáo trình
    • Sau khi hết học kì hoặc năm học 
  • Tác dụng của kiểm tra viết
    • Cùng một lúc kiểm tra được tất cả lớp trong một thời gian nhất định
    • Có thể kiểm tra từ một vấn đề nhỏ đến một vấn đề lớn có tính chất tổng hợp
    • Giúp học sinh phát triển năng lực diễn đạt bằng ngôn ngữ viết
  • Khi tiến hành kiểm tra viết, cần chú ý một số điểm sau đây:
    • Ra đề bài phải rõ ràng, chính xác, hiểu thống nhất ở tất cả học sinh, sát trình độ của các em, phù hợp thời gian làm bài, phát huy trí thông minh của các em.
    • Giáo dục cho các em tinh thần tự giác, nghiêm túc trong khi làm bài, tránh tình trạng nhìn bài nhau, nhắc bạn, sử dụng tài liệu trong khi làm bài.
    • Tạo điều kiện cho học sinh làm bài cẩn thận, đầy đủ, không làm cho các em mất tập trung tư tưởng, phân tán chú ý.
    • Thu bài đúng giờ.
    • Chấm bài cẩn thận.
    • Có nhận xét chính xác, cụ thể.
    • Trả bài đúng hạn. 
    • Có nhận xét chung, nhận xét riêng về nội dung, hình thức trình bày, tinh thần thái độ trong khi làm bài…
    • Khuyến khích học sinh tiến bộ, nhắc nhở học sinh sa sút.
  • Câu hỏi trong bài kiểm tra viết thường có hai loại chính sau:
    • Câu hỏi với mục đích đòi hỏi học sinh phải tái hiện các kiến thức sự kiện, đòi hỏi phải ghi nhớ và trình bày một cách chính xác, hệ thống, chọn lọc.
    • Câu hỏi yêu cầu năng lực nhận thức đòi hỏi học sinh phải thông hiểu, phân tích, tổng hợp, khái quát hóa, hệ thống hóa, vận dụng tri thức vào tình huống cụ thể,
    • Trong quá trình kiểm tra, cần sử dụng phối hợp cả hai loại câu hỏi trên.

c. Kiểm tra thực hành 

  • Kiểm tra thực hành nhằm mục đích: kiểm tra kỹ năng, kỹ xảo thực hành ở học sinh, như đo đạc, thí nghiệm lao động.
  • Kiểm tra thực hành được tiến hành: 
    • Ở trên lớp 
    • Trong phòng thí nghiệm 
    • Trong vườn trường
    • Trong xưởng trường 
    • Ngoài thiên nhiên 
  • Khi tiến hành kiểm tra thực hành, cần phải chú ý các điểm sau:
    • Theo dõi trình tự, độ chính xác, trình độ thành thạo của các thao tác
    • Kết hợp kiểm tra lý thuyết – cơ sở lý luận của các thao tác thực hành.

Ảnh minh họa: Các khái niệm cơ bản trong kiểm tra đánh giá
(Ảnh: Báo Quảng Ninh)

ĐÁNH GIÁ 

Theo Từ điển Tiếng Việt ( 1997 ), đánh giá được hiểu là : Nhận định giá trị. Các tác dụng kiểm tra thành tích học tập, rèn luyện của học viên được biểu lộ trong việc đánh giá những thành tích học tập, rèn luyện đó .

Để hiểu rõ khái niệm đánh giá, chúng ta cùng tìm hiểu các khái niệm có liên quan.

Đo 

Theo Từ điển Tiếng Việt, đo được hiểu là xác lập độ lớn của một đại lượng bằng cách so sánh với một đại lượng cùng loại được chọn làm đơn vị chức năng .Khái niệm đo ở trên tương thích với khoa học vật lý. Còn khái niệm “ đo ” trong khoa học xã hội, hoàn toàn có thể hiểu được là : Đo là chỉ sự so sánh một vật hay một hiện tượng kỳ lạ với một thước đo hoặc chuẩn mực và năng lực trình diễn tác dụng về mặt định lượng .

Nhận xét 

Nhận xét là đưa ra quan điểm có xem xét và đánh giá về một đối tượng người tiêu dùng nào đó .

Đánh giá 

Đánh giá là quy trình hình thành những nhận định và đánh giá, phân đoán về hiệu quả của việc làm, dựa vào sự nghiên cứu và phân tích những thông tin thu được, so sánh với những tiềm năng, tiêu chuẩn đã đề ra, nhằm mục đích yêu cầu những quyết định hành động thích hợp để tái tạo tình hình, kiểm soát và điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu suất cao việc làm .Đối chiếu với khái niệm đo, nhận xét ở trên, tất cả chúng ta thấy :

  • Đánh giá là một khái niệm bao hàm một quá trình.
  • Đo, nhận xét chỉ nói lên một khâu của quá trình ấy.

a. Đánh giá chẩn đoán 

Đánh giá chẩn đoán được thực thi trước khi dạy xong một chương hay một yếu tố quan trọng nào đó nhằm mục đích giúp cho giáo viên nắm được tình hình kiến thức và kỹ năng tương quan đã có của học viên, những điểm mà học viên đã nắm vững, những thiếu sót cần bổ khuyết … để quyết định hành động cách dạy thích hợp .

b. Đánh giá từng phần 

Đánh giá từng phần được thực thi nhiều lần trong dạy học nhằm mục đích cung ứng những thông tin ngược, qua đó, giáo viên và học viên kịp thời kiểm soát và điều chỉnh cách dạy và cách học, ghi nhận hiệu quả từng phần để liên tục triển khai chương trình một cách vững chãi .

c. Đánh giá tổng kết 

Đánh giá tổng kết được triển khai khi kết thúc môn học, năm học, khóa học bằng những kỳ thi nhằm mục đích đánh giá tổng quát hiệu quả học tập, so sánh với những tiềm năng đã đề ra .

Ra quyết định: Đây là khâu cuối cùng của quá trình đánh giá 

Dựa vào những khuynh hướng của đánh giá, giáo viên ra quyết định hành động những giải pháp đơn cử để giúp học viên hoặc giúp sức cả lớp về những thiếu sót .

Như vậy, kiểm tra có 3 hình thức: kiểm tra thường xuyên, kiểm tra định kỳ, kiểm tra tổng kết, được tiến hành thông qua 3 phương pháp: kiểm tra miệng, kiểm tra viết và kiểm tra thực hành. Mỗi hình thức có những thời điểm riêng phù hợp và những mục đích cụ thể khác nhau. Các phương pháp cũng có những tác dụng, yêu cầu riêng. Nhưng nhìn chung, việc phân bổ, kết hợp các bài kiểm tra phải đáp ứng sao cho quá trình đánh giá đạt hiệu quả tốt nhất. Không chỉ đánh giá mỗi kết quả dựa trên điểm số của bài kiểm tra định kỳ và tổng kết, mà còn phải thường xuyên kiểm tra, đánh giá từng phần để sát sao, kịp thời điều chỉnh cách dạy và học để đi đúng hướng và phát triển vững vàng.

Nguồn: Công Tuất Đỗ. 2013. Các Khái Niệm Cơ Bản Của Kiểm Tra, Đánh Giá – VOER.
[online] Available at: [Accessed 3 December 2020]. 

You may also like

Để lại bình luận